Thứ Ba, 13 tháng 12, 2016

@@@ CỎI BÌNH YÊN


    CỎI BÌNH YÊN...!

Con đi lễ mừng Chúa Giáng sinh 
Lòng uẩn khúc vì đường đời đôi nẻo
Đêm đông giá trần gian lạnh lẽo
Sưởi ấm lòng con tìm cỏi bình yên

Thánh đường uy nghi hoa đèn lung linh 
Con ngước nhìn trên cao chân lý 
Thiên đàng hư ảo Bê lem huyền bí !
Xin thánh thần rõi sáng tâm can

Bài Thánh ca thanh thoát ngân vang
Giọng con trẻ hồn nhiên thánh thiện
 Đức Thánh linh từ bi linh hiễn
Sao đàn chiên mãi chịu dối gian !

Cúi xin người nhân danh toàn năng 
Xua tăm tối xua loài ác quỷ
Con không mơ thiên đàng trên ấy !
 Chỉ xin người ban phát giữa trần gian!

Liễu cốc Hạ

Chủ Nhật, 11 tháng 12, 2016

Thơ Trần Hương Vân NGHỊCH NGÒI!



NGHỊCH NGÒA
I ! @@@


Cuộc đời tùng tiệc mâm vàng
Trí nhân lịch lãm lan man nghịch ngòai
Nghịch ngòai cái bệnh nghịch ngòai
Ai khôn mặc kệ nghịch ngòai cái khôn
Đã nghịch ngòai dễ nên khôn
Rằng khôn người đã ...không nghịch ngòai

Mâm vàng chén ngọc khôn ngồi
Thải phân cặn bả nghịch ngoài xuýt xoa
Tham sân chấp ngã - Di Đà
Bội nghịch ngu muội gian tà - Thánh kinh
Chúa Phật đều dạy công bình
Vì thân cao ngạo nên sanh nghịch ngoài

2016
Trần Hương Vân

Thứ Bảy, 3 tháng 12, 2016

Thơ Trần Hương Vân TRỊ THỦY


        
TRỊ THỦY!@@
Bão mới quét qua, lũ cuốn nhà
Miền Trung tang tác nỗi đông sa
Cơ ngơi hóa kiếp trong giây lát
Ước vọng đổi đời vẫn nẻo xa
Đa tạ ruột mềm tình nhục cốt
Đau lòng máu chảy nghĩa bào da
Bao giờ thủy trị yên dân nước
Đâu thể muôn năm chiếu lệ quà !
·2016
THV

 Trả lời · 1 phút · Đã chỉnh sửa

Thứ Sáu, 2 tháng 12, 2016

@@@ MỒ CÔI

        
MỒ CÔI  !

Chiều nay có gió đông qua
Chiều nay cánh nhạn mỏi sa lưng đồi
Hoa lau trắng nở mồ côi
Ngang tai một tiếng sấm đời gọi cha
Phù sa là ngãi phù sa
Mất cha mới thấu dáng cha lưng còng
Hàng cau khóm chuối rưng rưng
Con Sây cái nghé khăn tang ngậm ngùi
Đụn rơm heo hút cút côi
Mái tranh kèo cột rũ rời nghĩa ân
Ỉn cày lạnh vắng hai sương
Tắc rì cũng lắng giận  hờn cày ơi !
Mồ côi bao nãi mồ côi
Than khóc chi ,thuở bóng người biệt tăm
Đá hoa dát hiếu mộ phần
Mồ côi ba nén hương trầm khuây nguôi !

Liễu cốc Hạ

Thứ Năm, 1 tháng 12, 2016

NGHỆ THUẬT!

NGHỆ THUẬT !

NGHỆ THUẬT LUÔN GẮN LIỀN VỚI SỰ SỐNG CON NGƯỜI; NHƯ NƯỚC CHỨA TRONG LY ,KHI BỊ TRÀN CHẢY, NGHỆ THUẬT SẼ TRỞ THÀNH VÔ NGHĨA!

NGHỆ THUẬT LUÔN TÍCH CỰC ,NGƯỢC LẠI VỚI ĐIỀU NÀY THÌ KHÔNG CÒN LÀ NGHỆ THUẬT!

 NGHỆ THUẬT CŨNG ĐƯỢC XEM NHƯ  ĐẠO ĐỨC CỦA MỌI ĐẠO ĐỨC ,NÓ ĐỨNG TRÊN THẢY MỌI  ĐẠO LÝ ,TÔN GIÁO, CHÍNH TRỊ, TRIẾT HỌC VÀ CÓ THỂ VƯƠN VƯỢT LÊN  TRÊN CẢ THỜI ĐẠI

NGHỆ THUẬT LUÔN HÀM CHỨA 2 YẾU TỐ : HÌNH THỨC VÀ NỘI DUNG ,TỨC LÀ TÍNH THẨM MỸ VÁ TÍNH NHÂN VĂN  , CHÍNH TÍNH NHÂN VĂN  LÀ YẾU TỐ QUYẾT ĐỊNH GIÁ TRỊ NGHỆ THUẬT!

KHÔNG CÓ NGHỆ THUẬT VỊ NGHỆ THUẬT, MOI NGHỆ THUẬT ĐỀU VỊ NHÂN SINH!

NHỮNG TÁC PHẨM NGHỆ THUẬT CỦA PHÁI GỌI LÀ VỊ NGHỆ THUẬT  ÍT NHIỀU CŨNG HÀM CHỨA TÍNH NHÂN VĂN Ở ĐÓ; NẾU KHÔNG NÓ SẼ KHÔNG CÒN LÀ NGHỆ THUẬT

MỌI NGHỆ THUẬT ĐI NGƯỢC LẠI ĐIỀU TỐT ĐẸP, ĐÃ PHÁ SỰ VĂN MINH VÀ TIẾN BÔ CỦA CON NGƯỜI ĐỀU LÁ PHI NGHỆ THUẬT

2016
Trần Hương Vân

Thứ Năm, 24 tháng 11, 2016


CHUYỆN 20THÁNG 11 THẦY CÔ!!!
  _ Con cóc trong hang ,con cóc nhảy ra
   Con cóc nhảy ra ,con cóc ngồi đó
   Con cóc ngồi đó , con cóc nhảy đi !
Đây là bài thơ Con cóc và người đời vẫn gọi nó là "Bài thơ",vì nó hội đủ yếu tố, mà trước hết là hình thức.Tài tình thay ,bài thơ chỉ 3 câu ,lại không vần,nhưng các thanh ,âm của nó lại được phối hợp một cách nhịp nhàng,không hề liệt lụi;Mà bằng chứng là nó đã từng tồn tại qua bao năm tháng và ai ai cũng biết
   hay một bài con cóc khác ( có tác giả)
   Trăng không tròn bởi vì trăng khuyết
    không tròn trăng vì bởi khuyết trăng
   Khuyết trăng vì bởi trăng không tròn
   Không tròn trăng bởi vì trăng khuyết
 Cũng tài tình không kém ,chỉ có 6 từ thôi  , lại lẩm cẫm ; mà đã làm nên một bài tứ tuyệt và đã gây cho người đọc một chuỗi phì cười đáo đễ
   Nói về thơ , có cả hàng chục thể thơ  ,và hàng trăm cách viết;nhưng nói gì thì mỗi loại phải có cái khung ,nền riêng của nó, kể cả Tự do nó cũng có tính cách của Tự do.Ở đây , cái nền bài thơ TẢN MẠN của thầy TUẤN nói trên ,nó không ở vào một thể loại nào cả cũng không nằm trong hằng trăm cách viết  ;cho nên bù lại hai câu thoại đầu của tôi là rất trung thực , không hề quá đáng!
 Thực ra , bài thơ trên , nó chì sai mỗi một điểm thôi ,nhưng đó lại là điểm căn bản để trở thành cái gọi là bài thơ .Và giá như ban đầu thầy đừng tự sướng ,thay vào đó là sự khiêm tốn ,thì tôi sẽ rĩ vào tai thầy, thế là chúng ta sẽ thành bạn ,và thầy sẽ tự tin bước vào rừng thi phú  nay mai,tôi cam đoan! nhưng tiếc thay ...!
 Thầy cho rằng "chỉ cho vui bạn bè" ,Thầy quên rằng " Chơi cho lịch mới là chơi ,chơi cho đài các....."Thầy thật thơ ngây ",ấu trĩ"khi có những người xum xoe bênh thầy bất chấp lý lẽ ,trong khi những thầy cô hiểu biết  thì hoặc im lặng hoặc nói bóng gió, như thầy đã thấy ;Bên ngoài người ta vỗ về thầy nhưng bên trong thầy có biết giá trị thầy bị hạ thấp đến thế nào không, nhất là mới rồi tôi cảm ơn một người hiểu chuyện thì thầy lại nỗi cơn  tam bành lục tặc đến ngớ ngẫn, thầy lại gọi bè kéo bạn đến  chẳng khác nào kẻ thủ thực đầu đường... !Ngoài ra thầy vui gì đến nỗi không biết rằng học trò mình rất có thể biết được ,hoặc làm theo điều tuế toái của thầy ,hoặc rất có thể sẽ coi thường Thầy Cô!
   Ngay khi tôi muốn phân tích cái khuyết tật của bài thơ ,tôi nhấn manh  từ "Hình thức; không yêu cầu vần; trầm bổng" cho đền giờ nầy tối thiểu là thầy vẫn không thể hiểu ra! Ngược lại cứ thi nhau  dùng những ngôn từ chợ búa ,không văn hóa  mạ lị tôi : Nào là Ấu trĩ, moi móc ganh tị  tự đại ,thấy ghét ,nhìn mặt khó ưa ,ờ đâu Thọt ra , Huế đây mà ,cầu xe cán chết cho xong...Đây là ngôn từ chân chính , là có học đây sao,là Thầy Cô, là Cao Quý đây sao?!
  Như tôi đã phân tích trên ,là mọi ngôn luận của tôi đều  Thật, Đúng và Đủ ,rõ ràng là tôi không moi móc , ganh tị ;
  + Còn Ấu trĩ thì nên dành cho ai nói rằng : Viết thế nào cũng thành thơ !và nhất là dành cho  tác giả cái gọi là thơ ấy !
 +  Tự đại thì dành cho ai thiếu khiêm tốn ,và kém cạnh mà không chịu học hỏi !
  
+  Nhìn mặt khó ưa  là ngôn ngữ của kẻ không biết lý lẽ, không dùng kiến thức mà dùng ác cảm để hành xử, tức là vô học! Ví như thầy  ghét học trò mà chấm bớt điểm vậy !
 +  Ở đâu thọt ra , Xin thưa là ở góc Bình luận và đây là Trang xã hội ! Tôi chỉ tiếc là ,giá như tôi khen gió bài thơ kia thì thầy... sẽ hoan hỹ với cái Thọt của tôi rồi !
  +  Còn việc giận người  mà lôi quê cha đất tổ người ra để miệt thị  thì quả đó là vượt ngưỡng Đạo đức ,tức Vô đạo! Các thầy quá kiêu căn đến điên rồ, đến nỗi đã  xúc phạm cả Quê hương tôi  ,trong đó có cả người thân của tôi  là cô Hoàng Dung là bạn của các thầy cô đó ;Nếu người nói còn chút  liêm sĩ  ,có học thì tối thiểu rất nên xin lỗi cô Hoàng Dung mới phải đạo người!
   Tất cả những ngôn ngữ ,và cách ứng xử trên của các thầy cô , kể cả tôi   ; Đúng, sai ,hay, dở  ,Ai hồ đồ ,Ai miệt thị ,Ai ác cảm,Ai thiếu nhân cách ,Ai vô học Ai vô đạo Ai chợ búa ,Ai bến xe,Ai mạc hạng  ,nó đã phơi bày rành rành ra đó vv .Nếu các thầy cô còn không thấy thì có nhiều đồng  nghiệp của thầy cô quanh đó họ thấy chẳng mất đi đâu!
 . Sách có câu " Xâm hại đạo đức là xâm hại chính mình" ,thầy hành xử mà dùng những lời lẽ thiếu đạo đức thì thầy là người vô  đạo đức ,hay " Bạn nói những lời vàng ngọc ,vì lòng bạn đầy vàng ngọc ;bạn nói lời thối tha, vì lòng bạn đầy thối tha"Đó là điều rất thật,như  2+2=4. và thực tế thầy Tuấn đã có nhiều lời như điên dại ,nguyền rủa tôi đụng xe, hay lấy từ chó chết để ví các thầy mà vẫn không hay ;Đó là những minh chứng  rất hùng hồn cho cái lòng thối tha của các thầy cô vậy.
   Tôi chỉ nói đến đây thôi  ;còn các thầy cô ai thích thì cứ tiếp tục  .Tôi không lên tiếng ở đây nữa,  Nếu cần tôi sẽ mở rộng bài nầy và sẽ  lên trang chính ,hoặc sẽ trực tiếp đánh xe đến trường các thầy cô  nói cho có nhiều người nghe cho ra lẽ thật hư ! 
   

   

Thứ Sáu, 18 tháng 11, 2016

Thơ Trần Hương Vân LỜI BÌNH

            LỜI BÌNH

(Đây là lời bình của một người bạn , chỉ dùng làm tham khảo,hoặc có thể đăng ,nếu ban biên tập  thuận ,Xin cảm ơn!)                   
 LỜI NGÕ
Là người xứ Huế mộng mơ,nên Trần hương Vân từ trong máu thịt cũng đã có sẵn mạch nguồn của thơ ca.
    Anh bắt đầu bộc bạch nỗi lòng của mình qua thơ  vào cái tuổi ngũ tuần ,đó là một điều không lấy gì làm lạ khi thơ anh đã ít nhiều khắc họa về cuộc sống ,những chất vất ,những trăn trở đời thường

    Thơ anh câu chữ không cầu kì, dễ đọc ,dễ hiểu.Khá phong phú về thể loại ; Lục bát ,Đường,Mới ,Tự do,và cả cách viết gọi là Đương đại;nhưng thơ Đương đại của anh vẫn có khác,vẫn có giao vần ở cuối câu 
    Trần hương Vân viết khá nhiều về Đường luật ,một thể thơ khó làm,khó diễn đạt ,cũng rất khó lôi cuốn người đọc.Vậy mà anh dùng cả thể thơ nầy để nói về tình yêu,những trái tình nghiệt ngã hoặc mộng mị, bằng những cặp đối khá chuẩn mà ý thơ vẫn rung cảm khó ngờ!
    Thơ anh vừa mộc mạc ,lại vừa tinh tế nên vẫn chất chứa được những đa cảm lẫn tinh anh;tứ thơ bình dị mà sâu sắc;giàu nhân văn và  triết lý
    Anh dám đả phá những bi quan ,tiêu cực,những thói đời ô trọc,những định kiến thấp hèn xã hội,kể cả đạo lí
    Là người của hiện thực  ,không tin vào những đa đoan ,huyễn hoặc;Anh muốn minh chứng,muốn cảm hóa ,để thấy đâu là sự thật là chân lý của cuộc sống
    Tôi là bạn học cùng trường ,lại cùng quê với Hương Vân nên rất am tường tính cách của anh ấy;Là người sống có lý tưởng,yêu đời , yêu Quê hương ,Đất nước,.Vì thế , mặc dù trong cuộc sống anh gặp bao nghịch cảnh ,trớ trêu,song không vì thế mà anh trở nên bi quan yếm thế, ngược lại anh càng thể hiện tính lạc quan đến dị thường 
    Dường như trong anh đã dung dưỡng điều gì đó  lớn hơn ,và phải chăng cái lớn hơn ấy  chính là điều anh gọi là Thói đời ,cái mà đã bao người dù có học thức vẫn thường vương rơi và lung  lụy
   Đó là sự khác biệt là rất nhân văn trong thơ Trần hương Vân !
                     
                                                                                Biên Hòa !

Thứ Sáu, 14 tháng 10, 2016

TRÍ VÀ NHÂN




TRÍ THỨC!


@ Chỉ có thể gọi là Trí thức ,khi người ấy hoàn toàn có khả năng tư duy về nhân sinh ,vũ trụ một cách xuyên suốt và khoa học;không huyền hoặc ,viễn vong!
@ Trí thức và Nghệ sĩ đúng nghĩa, tuy hai nhưng là một, đều là những Trí thức.Họ khác nhau về tính chất ,phương tiện ,nhưng rất giống nhau về bản chất ,mục đích
@ Trí và Nhân tuy hai trạng từ có tính chất ,nội dung hoàn toàn khác nhau; nhưng trong sâu xa Trí và Nhân luôn bao hàm nhau .
@ Trí mà không Nhân là không Trí ! Và Nhân là biểu hiện của sự Trí

                          Trần Hương Vân

( www ) CHÍNH TÀ



               TÀ  CHÍNH !
Mượn cớ môi sinh dở thói tà
Miền Trung cá chết ,lỗi "...Mô Sa" *
Lòng nhân chia sẽ niềm  đau nước
Dạ thú đãi bôi nỗi khốn nhà
Sao nỡ béo cò dua quạ ác
Lạ gì đục nước rập tà ma
Trượng phu quân tử tri thông trạch
Tà chính khó gì chẳng nhận ra !

Liễu cốc Hạ

Thứ Hai, 12 tháng 9, 2016

XÁC SUẤT

            XÁC  SUẤT   !!!

Sáu mặt hạt xúc xắc
Chỉ mỗi mặt hướng thiên
Nhất nhị tam tranh quyền
Tứ ngũ lục duy ngã

   Mỗi một bài toán đố
   Chỉ một đáp đúng thôi
   Mỗi một sự trên đời
   Nào đâu hai ba phải

Nẻo đời muôn vạn lối
Chân lý  duy một đường
Tâm vật xác suất tương
Điều đúng sai mỗi nửa...!
 
   Nhưng tâm nào phật chúa
   Còn lắm thánh trên đời!
   Đem nửa ấy phân mươi
   Mỗi tâm còn nhỏ giọt

Sự đời thật cay nghiệt
Ai cũng rằng mình hay
Nhắm mắt kệ lẽ đời
 Chẳng thâm sâu học hỏi

    Trí còi cọc nông nổi
    Lý luận trẻ lên năm
    Rằng "vật tất vô tâm"
   Tất tâm cũng vô vật !

Thế mới rõ tri thức
Của mấy lão sư tôn...

    Tâm trong vật cao khôn ...
    Cái tâm. của thực thế
    Mượn xác suất âu để
    Sáng mắt kẻ cuồng tri !

Liễu cốc Hạ
 


Thứ Hai, 5 tháng 9, 2016

Trần

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Chữ Hán của "Trần" (陳)
Trần (chữ HánTrung <>/ chén) là một họ ở Trung QuốcViệt NamĐài LoanHồng KôngSingapore và một số nơi khác trên thế giới. Đây cũng là tên của một triều đại của lịch sử Việt Nam và một triều đại khác ở Trung Quốc.
Theo thăm dò của Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc, tháng 1 năm 2006, họ Trần đứng thứ 5 về số người tại Trung Quốc. Họ Trần phổ biến hơn tại miền Nam Trung Quốc. Tại Đài Loan, đây cũng là họ phổ biến nhất, chiếm 11% dân số.[1]
Tại Singapore, họ này thỉnh thoảng được viết với ký tự Latinh là Chern. Theo tiếng Quảng Đông, họ này cũng được viết với ký tự Latinh là Chan. Một số cách viết Latinh khác (từ các phương ngữ khác nhau) cũng có thể bắt gặp là Tan (Tân) (tiếng Mân Nam), TangDing (tiếng Phúc Châu), Chin (tiếng Khách Giatiếng Nhật: ちん), Chun hay Jin (진) (tiếng Triều Tiên), Zen (giọng Thượng Hải). Ở Việt Nam, nhiều người ở miền Bắc (ngoại trừ vùng hạ lưu sông Hồng và ven biển[2]) phát âm "tr" trong chữ "Trần" thành "ch"; trong khi nhiều nơi khác đọc theo chuẩn tiếng Việt.
Theo lối chiết tự, chữ Trần còn có thể đọc là Đông A (vì được ghép từ hai chữ Đông (東) và A (阿)). Khi nhà Trần tại Việt Nam giành chiến thắng trong ba cuộc kháng chiến chống quânMông Nguyên, khí thế chiến đấu của quân dân nhà Trần còn được gọi là "hào khí Đông A".

Mục lục

  [xem

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Trung Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Danh từ họ Trần bắt nguồn từ họ Quy (媯, bính âmGūi), một họ Trung Quốc cổ, hậu duệ của vua Thuấn, một trong Tam Hoàng Ngũ Đế.[3] Khi Chu Vũ Vương thiết lập nhà Chu, ông đã dành vùng đất Trần cho các con cháu vua Thuấn thành lập quốc gia riêng. Để thể hiện sự kính trọng tới vua Thuấn, tiểu quốc Trần được xem là một trong ba khách quốc của nhà Chu (tam khác, 三恪, bính âm: Sān Kè), nghĩa là quốc gia này không bị lệ thuộc mà chỉ là khách. Tuy nhiên, về sau, lãnh thổ này bị nước Sở chiếm đóng vào thế kỷ 5 TCN. Từ đó, những người sống tại đây lấy Trần làm họ của mình.
Vùng đất Trần thời Chu Vũ Vương cũng là nơi Vĩ Mãn, con Ngu Yên, hậu duệ vua Ngu Thuấn được phong vương và khởi sinh họ Hồ tại đây. Theo Sử ký Tư Mã ThiênHồ công Mãn là thủy tổ họ Trần chứ không phải họ Hồ. Vua Chu Vũ Vương sau khi diệt nhà Thương, tìm được Quy Mãn là dòng dõi vua Thuấn và phong cho làm vua nước nước Trần. Sau khi mất, Mãn được đặt thụy hiệu là Trần Hồ công. Công là tước, Hồ là thụy hiệu chứ không phải họ. Từ Trần Hồ công truyền các đời, tới Trần Tương côngTrần Thân công... Các vua nước Trần từ thời Tây Chu trở đi đều là dòng dõi Trần Hồ công chứ không phải mang họ Hồ.

Tại Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Tổ tiên của dòng dõi nhà Trần tại Việt Nam có nguồn gốc dân tộc Mân ở quận Tần Châu, tỉnh Phúc KiếnTrung Hoa. Đất Mân là vùng cư trú của tộc Mân Việt thuộc dòng Bách Việt. Người Bách Việt vốn sống từ sông Trường Giang về phía Nam. Theo nghiên cứu của học giả Đào Duy Anh có tới 500 tộc Bách Việt sống rải rác ở Hoa Nam Trung Quốc, Miến Điện, bắc Việt Nam, bắc Lào, hình thành một số bộ tộc lớn: người Âu Việt ở vùng Chiết Giang-Trung Quốc ngày nay, người Mân Việt ở vùng đất Mân (tỉnh Phúc Kiến)-Trung Quốc ngày nay, người Dương Việt ở vùng đông Hồ Nam, một phần Hồ Bắc, Giang Tây, Quảng Đông, người Lạc Việt ở vùng tây Hồ Nam, Quảng Tây, phần bắc và trung Việt Nam ngày nay, người Điền Việt ở vùng Vân Nam-Trung Quốc ngày nay.
Thời Kinh Dương vương dựng nước đặt tên nước là Xích Quỷ (tên hai ngôi sao ứng với vùng đất này), đông giáp biển Đông, tây giáp Ba Thục (tỉnh Tứ Xuyên-Trung Quốc ngày nay), bắc giáp hồ Động Đình (tỉnh Hồ Nam – Trung Quốc ngày nay), nam giáp Hồ Tôn (tỉnh Khánh Hòa–Việt Nam ngày nay). Sau khi thống nhất Trung Quốc, năm 218 trước công nguyên, Tần Thủy Hoàng mở cuộc chiến tranh xâm lược ra các nước xung quanh, sai tướng Đồ Thư đem 50 vạn quân đi trường kỳ đánh người Việt ở phương nam. Trước sức mạnh của quân Tần, các tộc Việt lui dần về phía Nam. Năm 208 trước công nguyên, liên quân Lạc Việt, Tây Âu và các tộc Việt khác đã hợp lực đại phá quân Tần, giết chết Đồ Thư, tiêu diệt mấy chục vạn quân Tần. Tần Nhị Thế buộc phải bãi binh. Vùng đất chiếm được, nhà Tần đặt thành các quận, huyện. Đất Mân đặt tên là quận Mân Trung. Đến đời nhà Đường đặt tên là Phúc Kiến quan sát sứ, rồi sau này đổi thành tỉnh Phúc Kiến ngày nay.
Trần Quốc Kinh từ Phúc Kiến sang Việt Nam vào khoảng năm 1110, thời vua Lý Nhân Tông (1072-1127), lúc đầu cư trú tại xã An Sinh, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh ngày nay; sống bằng nghề chài lưới trên sông nước, trên đường làm ăn chuyển dần vào hương Tức Mạc, huyện Thiên Trường (Nam Định). Đến đời con là Trần Hấp dời mộ tổ sang sinh sống tại Tam Đường, phủ Long Hưng, nay là vùng đất thuộc Thái Bình.[4] Trần Hấp sinh ra Trần LýTrần Lý sinh ra Trần Thừa (sau được tôn là Trần Thái Tổ), Trần Tự Khánh và Trần Thị Dung.
HỌ TRẦN NHỮNG LẦN THAY ĐỔI HỌ TÊN:
Họ Trần, còn gọi là họ "Đông A". Thuở ban đầu, khi họ Trần còn làm nghề đánh cá, trưởng môn phái võ lâm họ Trần là Trần Tự An chiết tự chữ Trần 陳 (chữ hán) thành hai chữA 阿 (chỉ lấy chữ liễu leo phía trước) và chữ Đông 東 để đặt tên võ phái họ Trần là võ phái Đông A. Một họ Trần... nhiều lần phải đổi sang họ khác do có nhiều biến cố trong lịch sử, có khi một người, có khi cả họ, trong một làng, một vùng.
1- Đại việt sử ký toàn thư chép: Tháng 5 năm Kỷ Sửu, Trùng Hưng năm thứ năm (1289) đời vua Trần Nhân Tông, sau hai lần đánh thắng quân Nguyên Mông (1285 - 1288) triều đình thực hiện bình công luận tội không phân biệt dân thường hay người hoàng tộc: "Những kẻ nào trước đây đã đầu hàng giặc thì dù bản thân có ở trong triều đình của giặc cũng kết án vắng mặt, xử tội đi đày hoặc tử hình, tịch thu điền sản sung công, tước bỏ quốc tính (họ vua) như bọn Trần Kiện, con trai Tĩnh Quốc vương Trần Quốc Khang, bọn Trần Lộng (cháu nội Thống quốc Thái sư Trần Thủ Độ) phải đổi sang họ Mai, còn Ích Tắc vì là chỗ thân tình cốt nhục (em vua), tuy bị trị tội cũng như mọi người, nhưng không bắt đổi họ xóa tên, chỉ gọi là Ả Trần, cho là hèn nhát như đàn bà. Khi về già, ông có hối lại, để thời gian viết lịch sử và gia phả dòng họ, hiện nay còn lưu truyền.
2- Năm 1395, Hố Quý Ly giết hại tôn thất nhà Trần là Trần Nguyên Uyên, Trần Nguyên Dận... và theo lệ cũ của nhà Trần, cũng bắt đổi làm họ Mai.  Như vậy là có hai họ Mai ở hai thời kỳ cách nhau 106 năm (1289 - 1395). Họ Mai lần trước là những người có sai lầm đầu hàng giặc, họ Mai lần sau là những người bảo vệ họ Trần, chống lại Hồ Quý Ly.
3- Năm 1429, thời vua Lê Thái Tổ, năm Thuận Thiên thứ hai, vì vụ Tả tướng quốc Trần Nguyên Hãn bị vua Lê Lợi bức hại, cả họ phải đổi sang họ khác:
- Chi trưởng (thánh phái) đổi làm họ Nguyễn.
- Chi thứ nối sau Trần Nguyên Hãn đổi làm họ Đàohọ Đặng.
- Các chi khác đổi làm họ Bùihọ Hoàng.
Qua mỗi lần thay đổi họ cho thấy Tổ tiên họ Trần đều có cách làm riêng để con cháu đời sau dễ dàng nhận ra dòng dõi của mình. Còn vụ Trần Nguyên Hãn thì làm sao vừa che mắt được triều đình nhà Lê, vừa để con cháu đời sau tìm ra dòng dõi của mình một cách chính xác, có ý thức về cội nguồn và truyền thống.
Có người bàn rằng: Cứ suy ngẫm cách quy định của phái thánh đổi làm họ Nguyễn, lấy liễu leo đứng trước chữ Nguyên thành chữ Nguyễn 阮  là dòng  trưởng, dòng anh, lại còn có ý nghĩa phải nhớ lấy niên hiệu Nguyên Phong của đời vua Trần Thái Tông.
Họ Đào có 4 chữ Đào:
+ Đào có chữ liễu leo đứng trước 陶 là họ Đào, còn có nghĩa là nhớ nhung, ghi nhớ, thương nhớ gốc.
+ Đào 濤 là ba đào, sóng gió.
+ Đào 桃 là cây đào.
+ Đào 逃  là trốn tránh, đào tẩu.
Thông thường trong gia phả của họ Đào dùng chữ 陶 (nhớ nhung, ghi nhớ), có nơi dùng chữ 濤 (ba đào, sóng gió), còn hai chữ khác ít dùng.
Họ Đặng 鄧gồm chữ Đăng 登 đứng trước chữ liễu leo là dòng thứ, dòng em, lại còn có ý nghĩa là ngọn đèn nhà Trần vẫn sáng, không bao giờ tắt.
Họ Bùi 裴gồm hai chữ phi 非  và y 衤ghép thành. Phi y có nghĩa là không có áo, là cởi trần, tức là họ Trần.
Họ Hoàng 皇 do hai chữ bạch 白 và vương 王 ghép thành, có nghĩa là vua áo trắng, vua không có kinh đô. Bác Hoàng Tùng, nguyên Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương là họ Trần, tên Trần Văn Khánh.
Có tài liệu còn nói họ Võ có người là họ gốc Trần.
(1)- Họ Đào Trần 陶 陳 ở Phường Minh Nông, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ ngày nay, họ Đào Trần xã Hùng Đô, xã Quang Húc, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ, họ Đào Trần xã Yên Lập, huyện Vĩnh Tường tỉnh Vĩnh Phúc ngày nay là gốc Trần. Tổ họ là Trần Đăng Huy, con trai thứ hai của phu nhân thứ hai Tả tướng quốc Trần Nguyên Hãn.
Năm 1429, khi được tin vua Lê Thái Tổ cho quân về bắt, Tả tướng quốc Trần Nguyên Hãn đã kịp cho bà vợ Hai đưa 3 người con trai của bà chạy đi lánh nạn. Sau nhiều năm bôn ba, thay họ đổi tên, lẩn tránh ở nhiều nơi, như kẻ tha phương cầu thực, bà và các con đến làng Kẻ Nú, huyện Phù Khang, phủ Tam Đới, trấn Sơn Tây nay là phường Minh Nông, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Nơi đây có đường bộ, đường thủy thuận tiện đi các nơi. Bà phân chia 3 người con đi 3 hướng tìm đường ẩn cư. Người con cả bà đưa lên vùng Tuyên Quang, sau đó sang vùng Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình ngày nay, từ đó mất tin tức chưa tìm lại được.
Người con trai thứ hai là Trần Đăng Huy, bà để lại ở Minh Nông. Vùng kẻ Nú có ba họ lớn mang tên họ Đào không cùng nguồn gốc. Nhờ được một chức sắc họ Đào có uy tín trong làng, che chở giúp đỡ, cho ngụ cư ở ven sông Hồng để mưu sinh và đổi thành họ Đào. Khi có con, ông cho  người con lớn lên vùng Tam Nông, nay phát triển thành 3 chi nhánh họ Đào ở Hùng Đô, Quang Húc huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ và ở Yên Lập, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc là những nơi gần sông, tiện đường về Sơn Đông. Người con nhỏ ở lại Minh Nông một thời gian, gia đình lại rời đi lên vùng Yên Bái, sau đó sang vùng Bắc Sơn Tây, rồi phân chia, một nhánh sang Lào, một nhánh trở về vùng Thạch Thất, tỉnh Sơn Tây cũ. Mỗi lần di chuyển là một lần thay họ, đổi tên. Cuối thế kỷ 18, chi trưởng về lại xóm Giải làng ven sông Hồng thuộc làng Minh Nông, tổng Minh Nông, huyện Hạc Trì, tỉnh Phú Thọ định cư đến ngày nay.
Từ thời phong kiến, hàng năm họ Đào Trần Minh Nông đều có người về liên hệ với họ Trần làng Quan Tử, xã Sơn Đông để lên đền cúng lễ Tả tướng quốc, nhưng tuyệt đối giữ kín không để lộ có con cháu Trần Nguyên Hãn từ xa trở về.
Người con thứ ba là Trần Trung Khoản, lúc đầu vào châu Ái (Thanh Hóa) đổi là họ Quách, sau thấy không yên lại vào châu Hoan (Nghệ An) đổi thành họ Mai, sau nữa chạy lên vùng Quàn Triều, Thái Nguyên đổi thành họ Nguyễn, tiếp đó chạy lên Cao Bằng. Sau khi được tin vua Lê Thánh Tông đã minh oan cho Nguyễn Trãi, con cháu trở về vùng Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa (nay là xã Quảng Đông, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa) sinh cơ lập nghiệp đổi về lại họ Trần.
(2)- Họ Đặng ở Lương Xá, Chương Mỹ, Hà Tây cũ là gốc Trần.
Năm 1511 đời vua Lê Tương Dực có Trần Tuân... là hậu duệ của Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn, khởi bimh chống lại triều đình, đã chiếm vùng Sơn Tây, Từ Liêm rồi tiến về Thăng Long, do chủ quan nên bị Trịnh Duy Sản đánh bại, phải đổi ra họ Đặng, lấy danh hiệu của cụ Tổ là Trần Văn Trừng (tức Huy) đỗ tiến sĩ năm Nhâm Tuất (năm 1442) triều vua Lê Thánh Tông làm quan đến Hình bộ Thượng thư Đặc Tiến Kim Tử Vĩnh Lộc Đại Phu Dương Khê Hậu, danh hiệu Đặng Hiên tiên sinh. Họ Đặng này gốc ở Lương Xá - Mỹ Đức - Phú Xuyên - Hà Tây cũ, một chi sau này chuyển về Xuân Trường - Nam Định, một số chi ở vùng Phù Đổng - Bắc Ninh, Hưng Yên, Tam Nông - Phú Thọ vv... Dòng họ này lúc đầu có tên là Đặng Trần, các đời sau mở rộng mới đổi khác đi như Đặng Tiến, Đặng Xuân, Đặng  Quốc, Đặng Đình...
(3)- Ở vùng huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định có họ Cao Trần là dòng dõi Trần Nguyên Hãn thuộc dòng Phúc Quảng Nghệ An, cháu bốn đời Tả tướng quốc Trần Nguyên Hãn. Do biến cố lịch sử, năm 1573, Trịnh Tùng (con Trịnh Kiểm) giết vua Lê Anh Tông, bức hại quần thần của vua nên phải lánh chạy về ấp Hòe Nha, trấn Sơn Nam Hạ (nay là xã Giao Tiến, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định) đổi thành họ Cao Trần (họ Cao mang gốc họ Trần).
(4)- Ở thành phố Nam Định còn có họ Đỗ thuộc dòng dõi Trần Khát Chân.    
(5)- Họ Trình.- đời vua Lê Thánh Tông (1431 - 1442) nhà Lê bắt họ Trần phải đổi thành họ Trình với lý do kiêng húy của Cung Từ Quốc Thái Hậu là mẹ vua Lê Thái Tông tên là Phạm Thị Ngọc Trần. Đây là sự bắt buộc vô lý nên chỉ có ít người theo, một thời gian sau lại đổi về họ Trần.   
(6)- Họ Dương... theo Trần gia thế phả của dòng họ Trần Quốc Tảng thì họ Trần còn có tên là họ Dương, chữ Dương có bộ liễu leo của chữ Trần 陳 đứng trước chữ dịch 易 có nghĩa là mặt trời đã thay đổi.
Qua nhiều lần biến thiên về chính trị xã hội, nhiều lần phải thay đổi họ tên nhưng tổ tiên họ Trần xưa đã ý thức được về cội nguồn để nhắc nhở con cháu dễ nhận ra nhau và phải nhớ lấy dòng máu anh hùng bất khuất của "Hào Khí Đông A".
Một số chi họ trải qua những thời gian dài ẩn tích, thay tên đổi họ nhiều lần để tồn tại, đến thời kỳ lịch sử  đổi ngôi họ khác lên làm vua, đã tìm cách lấy lại họ Trần.

Thứ Hai, 29 tháng 8, 2016

@@@ DÒNG TRONG

*   DÒNG TRONG !  

    Ta như
 mầm hạt hư không
    Về đây nẩy lộc giữa dòng 
trần ai
    Sáng giông giật 
chiều bão lay
    Cành xơ xác lá
 thân gầy hao hanh

    Ta như 
phiến đá đầu ghềnh
    Thu lăn lóc đáy 
 xuân chênh vênh dòng
     Đông ngấu đục 
hạ rêu phong
     Trải bao trăn trở
 nên tròn cạnh khoe

    Ta như
 dòng suối sơn khê
    Nhượng len đá cạn
 cương bề thác tuôn
    Lắng sâu hố thẳm ngách cùng
Bến đục bỏ lại dòng trong theo về 

Liễu Cốc Hạ





Thứ Tư, 17 tháng 8, 2016

TRAN KIEM

TỪ " KIÊM " NGHĨA LÀ GÌ?

Thưa các ông bà ,bác chú cùng bà con nội ngoại họ Trần Kiêm quý mến!
Cách đây không lâu  ,trên facebook ,cháu có đố vui, nhưng cũng rất thật:"Ai giải thích được từ KIÊM  đúng và hay nhất thì sẽ có thưởng".Và sau đó có một cháu ,tên là T .K Tài đã có câu trả lời; nhưng rất tiếc là chưa đúng !
   Theo câu trả lời của cháu Tài ,(cháu xin tạm diễn đạt cho có tình tiết mà không làm  mất đi ý chính của cháu Tài),là :Dưới triều nhà Nguyễn ( ở Huế; không biết thời vua nào)  có một vị quan to,tài năng uyên bác ,đức độ thanh sang;được nhà vua trọng dụng, tuy giữ một phẩm hàm nhưng coi sóc nhiều chức ngạch,vị nầy đi đến đâu công việc đều hoàn thành  tốt đẹp; nhà vua rất hài lòng.Một hôm  nhà vua cho vời lên  cung để ban thưởng,người bày ra nào là vàng bạc ,châu báu...,nhưng vật gì, dù quý đến bao nhiêu vị quan này cũng cảm tạ nhà vua mà xin từ khước ;nan quá ,nhà vua mới phán thế nầy:_"Khanh là đấng trung quân nhất bậc ,tài đức hoàn hảo xưa nay hiếm thấy,nay trẫm chỉ biết ban cho khanh một  thứ  cũng quý hiếm như tấm lòng của khanh ...đó là chữ "Kiêm" ,;và từ nay tên họ khanh phải được gọi là "Trần Kiêm..." .Vị quan nầy nghe xong rất hoan hỹ ,cúi đầu ân tạ ...
  Vị quan to ấy chính là Cụ Trần Kiêm Long,cụ  Tổ họ Trần nhà ta ngày nay, ,trước sự kiện ấy cụ có tên họ là Trần Duy Long
   
.Cũng bàn bạt về chữ "Kiêm"Nhớ ngày ba cháu qua đời ,nhà có mời các thầy ở chùa Tây Thiên ,(cạnh  Đàng Nam Giao, Huế) về chay đàng cho ba cháu ;khi viết sớ kinh đến chữ "Kiêm" ,thầy đặt bút xuống mà rằng:" Thầy đọc nhiều sách chữ Hán ,viết cũng nhiều nhưng chưa bao giờ có cái chữ "Kiêm" , không biết phải  viết thế nào!...;nghĩa chữ "Kiêm "trong Hán tự cũng không có!.."
  Trong thực tế ,do hiểu lệch lạc về chữ "Kiêm" một số bà con nội tộc khi làm giấy khai sinh cho con, cháu ,hoặc bỏ chữ "Kiêm " ,hoặc thay chữ "Kiêm " bằng một từ khác,hoặc chỉnh chữ "Kiêm" thành chữ "Kim", nhiều trường hợp  do cán bộ hộ tịch  đánh nhầm, nhất là ở khu vực nam bộ...
   Tất nhiên  trong số bà con mình cũng có vài mẫu chuyện vui buồn khác về chữ "Kiêm"mà cháu chưa được biết...
   Thưa quý bà con dòng họ .Qua câu chuyện cháu Tài trả lời cháu ,_cũng là chuyện đã từng  nghe truyền miệng đâu đó của những bậc cha chú_ ,rồi những giai thoại và những mẫu chuyện  khác về chữ 'Kiêm"; và tất nhiên chữ "Kiêm" trong Việt ngữ thì ai cũng đã rõ.Cho nên,có lẽ ai cũng đồng cảm ,rằng :Chữ "Kiêm" có nghĩa là bao quát,là kiêm nhiệm ; một người nhưng coi sóc nhiều việc...
   Thế nhưng có một điều rất khác mà ít ai nghĩ đến!
   Cháu lấy ví dụ ,từ "mâu thuẫn"  có nghĩa là xung khắc , trái nghịch nhau; nhưng ta đâu  có ngờ  từ mâu thuẫn là tên của hai thứ vũ khí ,đó là cái mâu và cái thuẫn... 
   Vậy tại sao  chúng ta không đặt vấn đề như ví dụ trên, là chữ "Kiêm" đã có cái tên gốc từ trước ,rồi mới đẻ  ra  chữ "Kiêm " trong kiêm nhiệm;Khác với cách nghĩ bấy lâu rằng vì kiêm nhiệm  nên mới có chữ "Kiêm".Vậy chữ "Kiêm " nguyên bản nó là gì ! ;Và tại sao nhà vua  lấy chữ "Kiêm " mà tặng ;với dụng ý gì!



TỪ "KIÊM" NGHĨA LÀ GÌ      ( Phần 2)

Thưa quý bà con dòng họ ,cháu tên là Trần kiêm Đờ ,con trai thứ của  cố phụ Trần kiêm Vệ ,cháu nội cố ông Trần kiêm Ân  ;ngụ cư tại xã Hương Vân ,huyện Hương trà ,chắc rất nhiều người biết .Cháu đã vào nam, tính đến nay vừa tròn 45 năm;  ở  tại ,Đồng Nai . Vốn người yêu chữ ,mê sách hơn là cơm gạo ; nhất là sử học. Cháu cũng thích "viết" nhưng chẳng đâu vào đâu cả... 
    (_Nửa đời ta lại ru ta 
Lao đao mấy nỗi xót xa bao lần
 Thi nhân lận đận thi nhân
Ai câu nghĩa cã ai vần can qua...)
   Như mọi người đều biết,  sách sử nước ta có nhiều ,nhưng thường viết theo lối chính luận  ,ít giai thoại ,điển tích  nên khá khô khan ,khó ghi nhận ;học sinh ngày nay rất ít người thích môn sử ,và kiến thức sử học cũng rất yếu .Chính vì lý do nầy mà cháu đã có ý tưởng   tóm lược những chương sử ký nước nhà ,chuyển thể thành có vần , để con em học sinh ai có sở thị  thì sẽ dễ  nhớ ,dễ nắm bắt những sự kiện lịch sử của nước ta qua các thời kỳ ,triều đại một cách có hệ thống ...Và  trong quá trình sưu tra, soạn thảo ,thật   bất
ngờ và may mắn, cháu đã gặp được một chữ ,tưởng chừng như mình đang trong mơ ,đó là chữ "Kiêm";vô cùng ý nghĩa
   Trong bộ Việt Nam Sử Lược của Trần Trong Kim .Vào thời nhà Lê.  Sau 10 năm khởi nghĩa đánh đuổi giặc Minh , Lê Lợi lên ngôi, lập nên nhà Lê ,thống nhất đất nước . Đời vua thứ 7 ,Giản Tu Công tên là Oanh ,cháu của vua Lê Thánh Tông,bị giam ngục ,ông đút tiền cho cai ngục rồi trốn về Tây đô;sau đó hội với các cựu thần bắt giết vua Uy Mục và hoàng hậu Trần thị rồi tự lên ngôi ,tức là vua Tương Dực
    Tương Dực là một ông vua chơi bời xa xỉ,sai Vũ như Tô xây điện 100 nóc , xây Cửu Trùng đài mấy năm trời không xong ,thâm thủng ngân khố , chết hại nhiều người; lại tư thông với các cung nhân tiền triều. Vì hoang dâm như thế nên sứ nhà Minh gọi là "Tướng lợn"...
    Và trong đoạn sử nói về việc thuế má dưới đời Lê tương Dực Trần Trọng Kim viết :" Đến đời vua Tương Dực thấy sử chép rằng,trước thì thuế vàng thuế bạc đồng niên thu được:
                     Vàng mười thứ tốt nhất gọi là "kiêm kim": 480 lượng
                     Vàng mười 2883 lượng ...
                  nay vua Tương Dực định lệ đổi lại,mỗi năm thu được :
                     Vàng 10 thứ "kiêm kim " 449 lượng
                     vàng mười 2901 lượng...."
... (Chép nguyên văn trong VNSL của Trần Trọng Kim)
    Trước đây cháu cũng có bắt gặp chữ "Kiêm kim" trong một tư liệu sử khác , cũng với nghĩa nầy , nhưng nay không có dịp lục lại..
    Ngoài ra chữ "KIÊM " trong các từ điển Hán việt của các tác giã như Thiều Chửu,Trần văn Chánh , của Đào Duy Anh vv...thì chữ :KIÊM" được dịch khá nhiều "nghĩa" đại loại như sau:
      Nhóm 1
                   _Gấp đôi ,gấp bội , (Lớn nhất)
                   _Chiếm lấy ,thôn tính (tài nhất)
                   _chu toàn ,toàn vẹn ,trọn vẹn (hay nhất)
                  _Hạng ưu ,ưu tú, tiên tiến, (giỏi nhất )
      Nhóm 2
                   _Kiêm nhiệm ,kiêm toàn ,kiêm chức ,cai quản vv...(một người coi sóc nhiều việc)...
    Như chúng ta đều biết, ngôn ngữ cũng giống như mọi vật khác, nó được hội tụ thành  cái ban đầu rồi dần dần sinh sôi ,biến hóa theo thời gian ;Hạt thóc chẳng hạn,bao nhiêu loại gạo ta ăn ngày nay là một trong hàng ngàn dòng gen của những hạt gạo ban đầu... Ngay như họ "TRẦN" nhà ta cũng thế ,do những hoàng cảnh éo le của lịch sử ,qua nhiều thời kì đã thay tên đổi họ như :Nguyễn;Đào ;Đặng ;Bùi ;Hoàng ;Cao ;Đỗ ;Trình ;Dương: Mai .( vấn đề nầy ,có dịp cháu sẽ trích dẫn để bà con ta nghiên cứu)Và như vậy tuy tên họ rất nhiều khác nhau ,nhưng chung quy đều là những chi nhánh người của họ TRẦN cả ;Riêng họ "TRẦN KIÊM nhà ta là may mắn giữ nguyên gốc...Do vậy, cháu tin chắc rằng bà con chúng ta sẽ rất hiễu và hài lòng với cách diễn giải trên của các từ điển
    Thưa quý bà con dòng họ ! Thông qua 3 dữ kiện Một là giai thoại về chữ "KIÊM" ; Hai là chữ "KIÊM" trong bộ sử của Trần Trọng Kim; Và ba là chữ "KIÊM" trong các từ điển Hán Việt mà cháu đã trích dẫn, đem xâu chuỗi lại thì chúng ta đều thấy rất rõ rằng cả 3 chữ "KIÊM" nầy là một thể thống nhất , có chung một diễn giải hết sức tuyệt vời và vô cùng ý nghĩa
       

           _Chữ "KIÊM" trong giai thoại có nghĩa là kiêm nhiệm ,bao quát, và rõ ràng là hậu duệ của chữ "KIÊM" trong "kiêm kim";bởi vì,người ta có thể nói " ông nầy  tài ,giỏi ,xuất sắc trong nhiều việc",chứ không ai nói rằng "vàng nầy bao quát hay vàng kia gấp đôi" .
          _Chữ "KIÊM" trong "kiêm kim" nghĩa là (vàng kiêm, tốt hơn vàng 10, vàng hảo hạng) như vậy với chữ "KIÊM" với vàng ( vật chất )ta cò thể dịch là hảo hạng,tốt nhất , với con người thì ta có thể gọi là xuất sắc ,hoàng hảo...
          _Còn chữ "KIÊM" trong các từ điển thì có nghĩa tương đồng  nhau ; và ta có thể hiểu một cách khái quát:Lớn nhất ,hay nhất, tài nhất ,giỏi nhất vv...nghĩa là "đứng đầu ,trên hết..."
      Ngoài ra cùng với chữ "KIÊM" ;trong các từ điển Hán Việt cũng cho ta những từ tương tự , đồng nghĩa, như : chữ Ưu , chữ Tài ,xuất sắc, xuất chúng, vương vượt vv...
    Nói tóm lại với chữ "KIÊM" trong họ "Trần Kiêm", tuy là một thụy hiệu, nhưng là một thụy hiệu vô cùng sáng giá;với văn chương chữ nghĩa ,nó là dạng  từ chỉ những giá trị chất lượng tột bậc của con người cũng như những hạng vật.Vả lai đây là những  luận cứ hết sức khách quan và thực tiễn. Vì vậy, dù tận cùng khiêm tốn cháu cũng không thể nói khác hơn ,rằng :Cái gốc rễ ,cái bản chất của chữ "KIÊM" trong giá trị sống nói chung, nó đứng trên mọi thứ ,kể cả Đức lẫn Tài và hầu như không 
còn  một ngôn từ nào  thể hay tuyệt hơn nó nữa !!!...
Tháng 9/ 2016
Liễu Cốc Hạ